Trang chủ » Nghiên cứu » Nghiên cứu

Lịch sử hình thành Operational research (vận trù học)

Thứ bảy - 27/05/2017 05:55 - Đã xem: 904
Lịch sử hình thành Operational research (vận trù học)

Lịch sử hình thành Operational research (vận trù học)

Vận trù học khởi nguồn trong chiến tranh. Nước Anh có thể không phải là nơi đầu tiên nghiên cứu và áp dụng vận trù học, nhưng thuật ngữ "operational research (- trong tiếng Anh-Anh" hay operations research trong tiếng Anh-Mỹ) thì sinh ra tại Anh. Còn Tại Việt Nam, OR được dịch thành Vận trù học (có lẽ là dịch theo tiếng Hán do GS Tụy khởi xướng).

Tạm dịch lời dẫn trong clip:

Vận trù học bắt nguồn từ Thế chiến lần thứ nhất khi khoa học được sử dụng để cải tiến các hoạt động quân sự. Vào tháng 2 năm 1917, tàu ngầm U-boat của Đức tăng cường các cuộc tấn công trên tuyến biển cung ứng của vương quốc Anh, đánh chìm một phần mười số thuyền chở hàng mỗi tháng.
 

Các nhà khoa học Anh đã phân tích tất cả dữ liệu mình có và tạo ra một mô hình tốt nhất có thể để đảm bảo an toàn cho đội tàu hộ tống. Các con tàu này được tối ưu về kích thước, tốc độ và thời điểm bắt đầu hành trình. Chỉ sáu tháng sau, mất mát đã giảm một cách rõ rệt xuống tỉ lệ chỉ còn 1 phần 200. Không chỉ cứu cuộc sống của nhiều người, mà còn góp phần vô cùng quan trọng trong sự tồn vong của Vương quốc Anh. Khoảng năm 1934, giới phân tích đã phát hiện ra một vấn đề mới. Các mô phỏng đã chỉ ra rằng giữa trận chiến, đội bay đánh bom của Đức có thể dễ dàng đánh gục nước Anh. Tới năm 1938, nước Anh có thể bị xóa sổ bởi đội quân này chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Chính phủ Anh yêu cầu một nhóm các nhà khoa học nghiên cứu khả năng sử dụng sóng radio để tạo ra một “tia chết” có khả năng bắn hạ hoặc “hun khói” các máy bay đánh bom khi chúng tới gần. Tia chết không được tạo ra, mà thay vào đó, các nhà khoa học đã tìm ra cách sử dụng sóng radio để phát hiện và tính tầm xa của máy bay địch. Và thế là ra-đa ra đời. Tuy nhiên, chỉ công nghệ không thôi là chưa đủ. Làm việc sát sườn bên cạnh các nhân viên R.A.F, nhóm đã tìm ra cách kết hợp nghiên cứu khoa học với kinh nghiệm vận hành để tạo ra một hệ thống phòng không tốt nhất thế giới. Phương pháp cách mạng này nhanh chóng đóng góp vào thành công của hệ thống phòng thủ của quân đội cũng như dân sự. Với vận trù học, các hệ thống cho phép phát hiện và đánh chặn máy bay địch trong thời gian sớm nhất có thể. Trong trận chiến nước Anh, các rada đã tăng khả năng phòng thủ của Ban chỉ huy chiến đấu lên gấp 10 lần, và vận trù học tăng gấp đôi lên 20 lần.
 

Source:

OR began in the First World War when the science was used to improve military operations. In February 1917 German U-boats intensified their assault on the Britain’s supply line sinking one of ten ships sailing every month.

British scientists analyzed all available data and created the best possible model to help the convoys survive. They were optimized the size, speed and timings for sailing. Just six months later, losses were down to remarkable 1 in 200. Not only saving life, but critically contributing to the survival of Great Britain. By 1934, analyst has identified a new problem. Simulation showed in the event of war, German bombers can easily deliver a knockout blow. By 1938, a knockout blow will be delivered in just 24 hours. British government asked a group of scientists to explore the ability using radio waves to create a “deathray” which could shoot down or cook approaching bombers. Instead scientists demonstrated how radio waves could detect and range aircraft. And Radar was born. However, technology alone was not enough, working with close partnership with R.A.F officers, the new team was able to combine science research with operational experience to create the greatest air defense system in the world. This groundbreaking approach was rapidly integrated to a network of both military and civilian defense success. With operational research, it enabled the earliest possible detection and interception of enemy aircraft. By the battle of Britain, radars have increased Fighter Command’s defense capability by a factor of ten and operational research double this to a factor of 20.
 

In 1848, the operational research club was founded which five years later became the operational research society. After the war, scientist offices involved in pioneering approach and found jobs in government, manufacturing, banking, health services, business, transport, defense, sport and well beyond taking the noise and insights of operational research with them where it will be solving problems and supporting decisions with science.

Tác giả bài viết: Hà Minh Hoàng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

Thăm dò ý kiến

Bạn từng phải giải quyết các bài toán tối ưu của vận trù học trong thực tế?

Rất nhiều lần

Thỉnh thoảng

Chưa bao giờ

Tôi không biết VTH là gì.

Thông tin học bổng